Soạn bài Xúy Vân giả dại - Ngữ văn 10

Gợi dẫn trước văn bản đọc

Gợi dẫn 1: Giữa sự nở rộ của muôn vàn phương tiện nghe nhìn và các hoạt động giải trí hấp dẫn, bạn nghĩ như thế nào nếu ai đó đề nghị bạn bỏ chút thời gian xem một vở chèo cổ?
Trả lời:
Giữa sự nở rộ của muôn vàn phương tiện nghe nhìn và các hoạt động giải trí hấp dẫn, việc bỏ chút thời gian thưởng thức một vở chèo cổ không phải là một sự lỗi thời, mà là một trải nghiệm văn hóa quý giá, giúp chúng ta kết nối với những giá trị tinh thần tồn tại trong tiềm thức dân tộc suốt nhiều thế kỷ qua. 

Gợi dẫn 2: Bạn có thấy tò mò khi nghe đến tên lớp chèo Xúy Vân giả dại hay không? Hãy tận dụng các điều kiện hiện có của mình để xem lớp chèo này hoặc toàn bộ vở chèo Kim Nham.
Gợi ý:

Nhan đề Xúy Vân giả dại gợi cho em tự tò mò đầy ám ảnh. Liệu đằng sau cái điên loạn của cô gái ấy là một sự suy sụp về tinh thần, hay là tiếng kêu cứu của một khát vọng hạnh phúc khi mà nó bị bóp nghẹt bởi những định kiến khắt khe. 

Đọc văn bản

Câu 1: Hình dung khi thể hiện lời thoại này, diễn viên sẽ có động tác diễn xuất tương ứng như thế nào?
Trả lời:
Khi thể hiện những lời thoại này, người diễn viên không chỉ thể hiện biểu cảm, mà còn cần một sự cộng hưởng giữa hình thể và nội tâm. Những biểu cảm như hối hận trên gương mặt, kèm với đó là những hành động như chắp tay cầu nguyện, ôm đầu bứt tóc hay đôi mắt đẫm lệ, vật vã bản thân như tự đấm ngực mình...đó là những tủi phận của một người trót mang tội bạc tình.

Câu 2: Lời thoại này thể hiện trạng thái tâm lí gì của nhân vật
Trả lời:
Lời thoại của nhân vật mang nhiều những cảm xúc trái chiều: Sự trầm buồn, bi ai đan xen với nỗi hổ thẹn tủi nhục. Khi tiếng hét trách móc bật thành dòng nước mắt, đó là lúc nàng đang cầu khẩn một sự thấu hiểu từ phía khán giả – những người chứng kiến nỗi bi kịch của cuộc đời nàng.

Câu 3: Chú ý cách nhân vật chèo xưng danh, tự giới thiệu trước khán giả
Trả lời:
- Các nhân vật tự xưng “tôi”, xưng tên họ một cách khiêm nhường, từ tốn kể về lai lịch, xuất thân, giới thiệu sơ lược về bản thân, sở thích, gia cảnh, tính nết của mình.

Câu 4: Hình ảnh vợ chồng quấn quýt xuất hiện ở đây có ý nghĩa gì?
Trả lời:
Hình ảnh vợ chồng quấn quýt trong lời thoại chính là ước muốn giản dị của Xúy Vân, càng đối lập với sự cô đơn thực tại của nàng. Thể hiện sự hối hận và tủi phận của nàng khi nhận ra mình đã đánh mất đi những gì quý giá nhất.

Câu 5: Chú ý sự ý thức của nhân vật về chính mình
Trả lời:

- Lời thoại đã cho thấy nhân vật đã nhận ra được hoàn cảnh và sai lầm của bản thân hiện tại. Xúy Vân lúc này không còn hoàn toàn mê muội, nàng đã nhìn thấu hoàn cảnh và những sai lầm mà mình đã gây ra. Nàng nhận ra sự cô độc của bản thân, bơ vơ vô định không biết đi đâu về đâu để bị cạm bẫy của cuộc đời trói buộc, rồi lại phải chịu bao điều oan trái.

Câu 6: Lưu ý ngôn ngữ và cách liên hệ bất thường của người điên hoặc giả điên
Trả lời:

Cách Xúy Vân sử dụng ngôn ngữ cho thấy một sự đứt gãy hoàn toàn trong tư duy. Những điều ấy nhắc tới một cách phí lý, sai sự thật. Nó không phải là sự ngẫu nhiên, mà là minh chứng cho trạng thái tâm thần bất ổn của nhân vật. Xuy Vân đã không còn sự tỉnh táo, dần mất đi ý thức và không phân biệt được sự việc.

Trả lời câu hỏi

Câu 1: Nêu nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại của Xúy Vân.
Trả lời:
Xúy Vân là nạn nhân của sự cô độc, buồn bã trong cuộc hôn nhân đèn sách. Khi bị gã Trần Phương tán tỉnh, nàng tìm thấy ở đó sự hứa hẹn ngon ngọt về hạnh phúc, dẫn đến hành động giả dại như một hi vọng để thoát khỏi Kim Nham.

Câu 2: Trong lớp chèo Xúy Vân giả dại, đoạn lời thoại nào thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên” của nhân vật? Vì sao bạn xác định như vậy?
Trả lời:
- Đ
oạn lời thoại hát quá giang thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên” của nhân vật. Vì ở đoạn trích này, những từ ngữ như "lụy đò", "bạn cười", "chúng chê" không còn là lời kể bình thường mà là tiếng than vãn, ân hận, xót xa về một kiếp đời bị phụ tình và đã trót xiêu lòng trước tình nhân mới. 

Câu 3: Hãy chọn phân tích một đoạn lời thoại để làm rõ những mâu thuẫn giằng xé trong nội tâm của nhân vật Xúy Vân.
Trả lời:
      Mở đầu vở kịch, 
Xúy Vân xuất hiện giữa không gian sân khấu bằng những bước chân quay cuồng và những tiếng hát than thở với bà Nguyệt về tình duyên của mình. Tâm trạng "nửa tỉnh nửa mê" của nàng không đơn thuần là sự điên dại, mà là biểu hiện của một tâm hồn đầy bi kịch trong tình duyên. 

“Tôi là đò, đò nỏ có thưa

Tôi càng chờ, càng đợ, càng trưa chuyến đò”

     Qua tiếng hát than thở với bà Nguyệt, Xúy Vân đã mượn hình ảnh con đò để soi chiếu đời mình. Con đò ấy chính là tuổi xuân đang dần phai nhạt theo những tháng ngày mòn mỏi đợi chồng. Hình ảnh của cô gái ấy như một người lữ khách đứng trên bến đò vắng, chờ đợi một thứ gì đó không bao giờ xuất hiện. Điều khó đã khắc họa rõ nét nỗi đau đớn, day dứt và cả sự lo âu của một người phụ nữ đang đánh mất dần những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời.

“Chẳng nên gia thất thì về

Ở làm chi nữa chúng chê bạn cười”

     Dưới hình thức của những câu thơ lục bát biến thể, Xúy Vân đã bộc lộ sự khó chịu khi bị trói buộc cái gọi là gia thất, mọi thứ đều phải phụ thuộc vào chồng. Nàng khao khát được thoát khỏi những ngày tháng ấy để tìm đến hạnh phúc mới. Nhưng muốn qua sông lần nữa thì phải dứt bỏ tình duyên cũ, vậy nên mới dẫn đến hành động giả dại trong bài đọc. 

“Gió giăng thì mặc gió giăng

Đôi ta chỉ quyết đạo hằng với nhau”

     Sự kiên định đến cực đoan của nàng đã biến một người phụ nữ bị ràng buộc trở thành một người phụ nữ dám sống thật với khao khát của chính mình. Dù hành vi ấy trái với đạo đức phong kiến, nhưng đứng ở góc độ con người, đó chính là sự đắm chìm tuyệt đối vào tình yêu, một tình yêu nồng cháy đến mức nàng sẵn sàng đánh đổi cả danh dự để được là chính mình. Xúy Vân không đơn thuần là kẻ phản bội, nàng là nạn nhân của một trái tim quá khát khao hạnh phúc mà không tìm thấy lối thoát trong một cuộc gượng ép hôn nhân. 

Câu 4: Đoạn lời thoại được thể hiện theo điệu “con gà rừng” cho biết những điều gì về cảnh ngộ đời sống cũng như niềm mong ước của Xúy Vân?
Trả lời:

Đoạn thoại này cho thấy nỗi uất ức tột cùng trước sự đàm tiếu của làng xóm khi bị chê cười là bỏ chồng, dan díu với nhân ngãi, để tiếng xấu cho cha mẹ...Đồng thời cho thấy mong ước về cuộc sống gia đình của Xúy Vân, nàng mong muốn có một hạnh phúc sớm tối có nhau, “anh đi gặt”, “nàng mang cơm”, đó là một khát vọng bình yên, là mong ước của nhiều người phụ nữ trong xã hội phong kiến. 




Câu 5: Qua đoạn xưng danh của Xúy Vân, có thể nhận ra được những đặc điểm gì của sân khấu chèo (cách xưng danh, sự tương tác giữa người xem và người diễn…)?
Trả lời:
- Cách xưng danh: nhân vật tự thuật, tự xưng danh báo tính, tự bình luận về hành động hoặc nhân cách của chính mình
- Sự tương tác giữa người xem và người diễn: gọi là những đoạn thoại hướng ngoại, làm cho sân khấu chèo gần gũi, người xem có thể thêm các tiếng đế để tiếp lời nhân vật.
Câu 6: Nêu một số đặc điểm của ngôn ngữ chèo mà bạn nhận biết được qua đoạn trích (thể thơ quen dùng; chất liệu ca dao, dân ca;…).
Trả lời:
- Có sự đan xen, phối hợp nhuần nhuyễn giữa nói và hát
- Ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa, sử dụng những thể thơ quen thuộc, dễ nhớ có vần điệu
- Cách nói ví von giàu tính tự sự trữ tình.
Câu 7: Qua lớp chèo này, bạn hiểu thêm được những điều gì về đời sống văn hóa làng xã Việt Nam thuở xưa?
Trả lời:
- Tin tưởng vào tín ngưỡng: “than cùng bà Nguyệt”, “ông Bụt”
- Tam tòng tứ đức
- Hàng xóm láng giềng sống với nhau gần gũi, đoàn kết.
- Đời sống của dân làng chủ yếu tự cấp, tự túc, khép kín, rât ít khi tiếp xúc với bên ngoài
Câu 8: Xúy Vân giả dại để che giấu điều gì? Bạn đánh giá như thế nào về hành động này của nhân vật?
Trả lời:
 Xúy Vân giả dại để che giấu sự thật rằng mình đã trót say đắm Trần Phương mà phụ bạc Kim Nham, đồng thời hành động giả dại của nàng còn có mục đích muốn được tự do, thoát khỏi Kim Nham để đi theo Trần Phương.
- Hành động này của Xúy Vân tuy là sai trái vì đã phụ chồng, không phải là hành vi đoan chính nhưng đặt trong hoàn cảnh của người phụ nữ xưa thì đây là một điều phần nào có thể thông cảm được vì nàng đang phải sống những ngày vò võ cô đơn đợi chồng về, trong xã hội xưa người phụ nữ lại không được tự do tìm kiếm hạnh phúc nên đây có thể là một phút yếu lòng của Xúy Vân.
Câu 9: Với văn bản lớp chèo Xúy Vân giả dại, ta chỉ cần khoảng 3 phút để đọc xong, nhưng để diễn trên sân khấu, cần tới gần 15 phút. Từ thực tế này, có thể rút ra được nhận xét gì về nghệ thuật chèo? (Gợi ý: chức năng của tích trò; tầm quan trọng của diễn xuất gồm hát, múa và các hình thức biểu cảm khác;…)
Trả lời:
- Chèo là loại hình sân khấu truyền thống mang đặc điểm diễn kể dân gian, được cấu tạo bằng hai nhân tố cơ bản: tích và trò. Tích là cốt truyện kể bằng văn học, còn trò là nghệ thuật diễn đạt cốt truyện đó trên sân khấu. 
- Trò diễn trong Chèo là sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật múa, âm nhạc và kịch bản văn học. Trong đó múa là một hình thức biểu đạt quan trọng của nhân vật, làm sinh động vở diễn và cuốn hút người xem. 
- Âm nhạc là cốt lõi của nghệ thuật sân khấu Chèo. Trong đó về phần hát bao gồm hơn một trăm các làn điệu chia thành các hệ thống khác nhau. Chèo sử dụng rất nhiều nhạc cụ dân gian như đàn nhị, trống. Trong đó trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa, và đệm cho câu hát. Âm nhạc trong Chèo ngày càng hấp dẫn và đa sắc màu khi có sự giao thoa giữa âm nhạc dân tộc và hiện đại.

Kết nối đọc - viết

Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bạn về nỗi niềm của nhân vật Xúy Vân được thể hiện qua lớp chèo Xúy Vân giả dại.

Đoạn văn tham khảo

Xuyên suốt màn chèo, ta nhận ra biết bao vẻ đẹp của nhân ái và khát vọng tình yêu đã rực cháy như ngọn lửa thiêng không bao giờ tắt trong trái tim người thiếu phụ. Khát vọng tình yêu tự nhiên nên vẻ đẹp với ánh sáng lung linh của thời đại càng đi sâu và hòa quyện tâm hồn vào con người của Xúy Vân, thông cảm cho nàng hơn bao giờ hết. Vở chèo đã góp chung một tiếng nói phản kháng các cuộc hôn nhân giả dối, gượng ép, ủng hộ tình yêu thiên tính. Đồng thời, ta có thể rút ra cho mình một nhận thức về:
“Người đàn bà cao quý biết bao! Họ bệnh và dệt nên những hoa hồng của thượng giới trong đời sống phàm tục của chúng ta”.
Chính nhịp sóng lòng về tình yêu của người phụ nữ là những nốt nhạc trầm bổng du dương, tạo nên trong tao đàn văn học dân gian một giai điệu không dứt và mãi xao xuyến, rung động tâm hồn con người qua bao thời đại.