Trước khi đọc
1. Bác Hồ
(Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) đã bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm con đường
cứu nước. Hãy kể tên một số nơi Bác đã từng đặt chân tới.
Trả lời:
- Trong hành trình bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm con đường cứu nước của mình, Bác Hồ đã in dấu chân lên rất nhiều quốc gia trải dài khắp các đại lục Á, Âu, Phi và Mỹ. Đặc biệt, người đã dành khoảng thời gian khá dài để sống, làm việc và khảo sát thực tế tại ba quốc gia đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh và Pháp. Sau đó đến Liên Xô.
2. Hãy nêu tên
một số bài thơ của Hồ Chí Minh mà em biết.
Trả lời:
- Một số
bài thơ của Hồ Chí Minh mà em biết: Cảnh khuya, Rằm tháng Giêng, Trung
thu, Tin thắng trận, Đối nguyệt, Cảnh rừng Việt Bắc, Chơi trăng,…
Đọc văn bản
Theo dõi: Vị trí xã
hội của các nhân vật.
Trả lời:
- Các nhân vật xuất hiện trong tác phẩm bao gồm: ban trưởng, cảnh trưởng và huyện trưởng. Họ đều là những kẻ nắm giữ các chức vụ cao, đại diện cho bộ máy quản lý và cai trị của chính quyền địa phương.
Theo dõi: Hành động
của các nhân vật.
Trả lời:
- Ban
trưởng nhà lao thường xuyên đánh bạc làm pháp phạm
- Cảnh
trưởng tham ăn tiền của phạm nhân bị giải
- Huyện
trưởng chong đèn – đốt đèn bàn không chú ý tới công việc.
Trả lời câu hỏi
Câu hỏi 1 SGK
Ngữ văn 8 (trang 86): Bài
thơ Lai Tân thuộc thể thơ nào? Nêu những dấu hiệu giúp em nhận biết được điều
đó.
Trả lời:
- Bài thơ "Lai Tân" được viết theo thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Điều này được thể hiện qua những dấu hiệu như:
+ Cấu trúc: Bài thơ có bốn câu, mỗi câu bảy chữ.
+ Luật bằng trắc: Bài thơ tuân thủ nghiêm ngặt luật bằng ở bản chữ Hán (mặc dù bản dịch thơ chuyển dịch sang luật trắc).
+ Niêm: niêm giữa câu 2 và câu 3
+ Gieo vần: Gieo vần chân ở các câu chẵn
+ Nhịp điệu: Được ngắt theo lối truyền thống 2/2/3 hoặc 4/3 chậm rãi.
Câu hỏi 2 SGK Ngữ văn 8 (trang 86): Em
hãy cho biết mục đích những việc thường làm của ban trưởng nhà giam và cảnh
trưởng. Căn cứ vào đâu em khẳng định như vậy?
Trả lời:
- Ban trưởng coi việc đánh bạc là lẽ sống, cảnh trưởng thì ăn tiền của phạm nhân. Qua bản phiên âm của bài thơ, các cụm từ "thiên thiên đố" (ngày ngày đánh bạc) và "giải phạm tiền" (tiền áp giải phạm nhân) chính là minh chứng để khẳng định điều này.
Câu hỏi 3 SGK Ngữ văn 8 (trang 86): Phải
chăng sau khi chê những thói xấu của ban trưởng và cảnh trưởng, tác giả muốn
dành tặng lời khen cho huyện trưởng vì đã làm việc chăm chỉ? Em thử suy đoán
huyện trưởng “chong đèn” để làm gì?
Trả lời:
- Sau khi chê những thói xấu của ban trưởng và cảnh trưởng, tác giả không dành tặng lời khen cho huyện trưởng vì đã làm việc chăm chỉ. Thực chất, ông muốn bóc trần bộ mặt của kẻ đứng đầu chính quyền Lai Tân. Việc huyện trưởng "chong đèn" hàng đêm không phải để thức khuya chăm chỉ làm việc, mà là để làm chuyện mờ ám - hút thuốc phiện.
Câu hỏi 4 SGK Ngữ văn 8 (trang 86): Giọng
điệu trào phúng của câu thơ thứ ba có gì khác biệt so với hai câu thơ đầu?
Trả lời:
- Nếu hai câu thơ đầu tập trung nói về sự tham nhũng, phạm pháp của đám quan lại cấp dưới thì câu thơ thứ ba nói về thói ăn chơi hưởng lạc của quan phụ mẫu cấp trên. Điều này thể hiện sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm, chìm ngập trong tận cùng của tệ nạn của bộ máy hành chính nơi đây.
Câu hỏi 5 SGK Ngữ văn 8 (trang 86): Các
nhân vật trong bài thơ Lai Tân thuộc nhóm thành phần nào trong xã hội? Hãy làm
rõ dụng ý của tác giả khi nhằm vào nhóm đối tượng này.
Trả lời:
- Các nhân vật trong bài thơ Lai Tân đều thuộc tầng lớp quan lại, công chức nắm giữ quyền lực tối cao trong bộ máy chính quyền phong kiến đương thời. Bằng cách hướng tiếng cười trào phúng vào nhóm đối tượng này, tác giả muốn muốn phơi bày và lên án gay gắt, tố cáo tình trạng mục nát của hệ thống chính quyền lúc bấy giờ, một xã hội suy tàn từ trên xuống dưới.
Câu hỏi 6 SGK Ngữ văn 8 (trang 86): Theo
em, nội dung câu kết có mâu thuẫn với nội dung của các câu thơ trước không? Vì
sao?
Trả lời:
- Nội dung câu kết không mâu thuẫn với nội dung của các câu thơ trước. Sự xuất hiện bất ngờ của ba từ "vẫn thái bình" đã tạo nên một kết thúc vô cùng đắt giá. Thay vì một lời chỉ trích, tác giả lại sử dụng lối nói ngược đầy châm biếm: Một bộ máy cai trị đầy rẫy tệ nạn, từ đánh bạc, ăn hối lộ cho đến nghiện hút mà cuộc sống vẫn thái bình. Sự "thái bình" ấy thực chất là sự bất động của một vũng nước đục, nơi các tệ nạn đã trở thành lẽ thường tình, biến cái phi lý thành cái hiển nhiên.
Viết kết nối với đọc
Viết
đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) làm rõ chất trào phúng nhẹ nhàng mà sâu cay của bài
thơ Lai Tân qua lời nhận xét: “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”.
Đoạn văn tham khảo
Chất trào phúng độc đáo trong tập thơ "Nhật ký trong tù" của Hồ Chí Minh được thể hiện vô cùng đặc sắc qua câu thơ khép lại tác phẩm "Lai Tân": "Trời đất Lai Tân vẫn thái bình". Câu thơ toát lên một nụ cười châm biếm nhẹ nhàng nhưng lại chứa đựng một đòn đả kích vô cùng hiểm hóc: Làm sao một xã hội có thể gọi là "thái bình" khi từ quan dưới cho đến quan trên đều chìm ngập trong tệ nạn? Chính lối nói ngược ấy đã biến sự bình yên bề ngoài kia thành một nghịch cảnh vô cùng nực cười, lột trần sự thối nát đã trở thành hệ thống của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Đây chính là đặc trưng của chất trữ tình hướng nội trong thơ.
Chỉ bằng một câu kết nhẹ nhàng, tác giả không cần dùng đến những từ ngữ đao to búa lớn nhưng vẫn dội một gáo nước lạnh vào bộ máy cai trị mục nát, để lại tiếng cười mỉa mai và dư âm sâu sắc trong lòng người đọc.
---------------------------------------
Trên đây là phần hướng dẫn Soạn bài Lai Tân Ngữ văn 8 giúp bạn hiểu rõ hơn về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài học. Hy vọng rằng những kiến thức này sẽ là nguồn tài liệu hữu ích đồng hành cùng bạn trong quá trình ôn tập và nâng cao kết quả học tập môn Ngữ văn. Nếu bạn cần tham khảo thêm các bài soạn chi tiết hoặc phân tích chuyên sâu cho các văn bản khác trong chương trình, hãy khám phá ngay kho tài liệu dưới đây nhé."