Trước khi đọc
1. Hãy kể tên
một số vị tướng nổi tiếng trong lịch sử nước ta.
Trả lời:
- Một số vị tướng nổi tiếng trong lịch sử nước ta: Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Quang Trung, Lê Trọng Tấn…
2. Theo em, vì
sao quân Mông – Nguyên ba lần đem quân xâm lược nước ta đều phải chịu thất bại?
Trả lời:
- Quân dân nhà Trần có sự chuẩn bị vô cùng chu đáo trên mọi mặt, từ việc tích trữ lương thảo, rèn đúc vũ khí cho đến huấn luyện quân sĩ tinh nhuệ và củng cố vững chắc trận địa, kết hợp với ý chí quyết chiến quyết thắng, đồng lòng của của quân dân ta.
Đọc văn bản
Theo dõi: Điểm chung
của các cặp nhân vật lịch sử được nêu tên.
Trả lời:
- Điểm chung của các cặp nhân vật lịch sử được nhắc đến chính là lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần dũng cảm, vì đất nước mà hi sinh bản thân mình, quyết không đầu hàng trước kẻ thù để quyết tâm giành thắng lợi.
Theo dõi: Mối quan hệ
vua – tôi, chủ tướng – tì tướng được Trần Quốc Tuấn viện dẫn làm cơ sở cho
những lập luận kế tiếp.
Trả lời:
- Để làm cơ sở cho những lập luận kế tiếp, Trần Quốc Tuấn đã khéo léo đưa ra những tấm gương nghĩa sĩ trung kiên trong lịch sử Trung Hoa. Điển hình là Nguyễn Văn Lập, dù chỉ trấn giữ thành Điếu Ngư nhỏ bé như cái đấu nhưng vẫn kiên cường chống lại hàng trăm vạn quân của Mông Kha, khiến cho nhân dân đời Tống đến nay còn đội ơn sâu. Hay như tì tướng Xích Tu Tư, bất chấp hiểm nguy đã dũng cảm xông vào chỗ lam chướng xa xôi nghìn trùng để đánh bại quân Nam Chiếu chỉ trong vòng vài tuần khiến cho quân trưởng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng thơm.
Theo dõi: Những lí lẽ
và bằng chứng được Trần Quốc Tuấn sử dụng nhằm lay động cảm xúc của các tì
tướng.
Trả lời:
- Lí lẽ:
+ Trần Quốc Tuấn bộc lộ nỗi lòng của mình khi bản thân cùng các tì tướng sinh ra giữa thời loạn lạc, lớn lên đúng vào thời buổi đất nước gặp gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, dùng giọng lưỡi cú diều để sỉ nhục triều đình và mang cái thân dê chó để bắt nạt các bậc tể phụ. Ông phơi bày nỗi uất hận dâng trào của một vị chủ tướng qua phân cảnh: "Ta thường tới bữa quên ăn... ta cũng cam lòng".
- Dẫn chứng:
+ Ông tố cáo dã tâm tham lam của giặc khi chúng mượn danh Hốt Tất Liệt để sách nhiễu ngọc lụa, giả vờ xưng hiệu Vân Nam Vương hòng vơ vét vàng bạc. Mặt khác, Trần Quốc Tuấn cũng nhắc lại ân tình sâu nặng của mình đối với binh sĩ dưới quyền: Các ngươi không có mặc thì ta cho áo,… chẳng kém gì.
Theo dõi: Các bằng
chứng và lí lẽ Trần Quốc Tuấn sử dụng để khẳng định các tì tướng đang suy nghĩ
và hành động không đúng.
Trả lời:
- Bằng
chứng:
+ Trần Quốc Tuấn chỉ ra sự vô nghĩa của những thú vui tầm thường khi có giặc ngoại bang tràn sang: cựa của con gà chọi làm sao đâm thủng được áo giáp dày của kẻ thù, trò chơi cờ bạc không thể thay thế cho mưu lược binh gia, hay tiếng hát ca trù réo rắt cũng chẳng thể làm cho quân thù điếc tai được. Ông cảnh báo về một viễn cảnh đen tối khi đất nước rơi vào tay giặc: Chẳng những bổng lộc, thái ấp của chủ tướng không còn, mà ngay cả nhà cửa, vợ con của các tì tướng cũng khó lòng giữ mạng. Lúc đó dù muốn tìm lại chút vui vẻ liệu có còn cơ hội hay không?
- Lí lẽ:
+ Nhắc lại
ân tình của Trần Quốc Tuấn và binh sĩ.
+ Phê phán
hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan trước vận mệnh đất nước.
+ Khẳng
định thái độ đúng đắn là phải cảnh giác, tích cực rèn luyện để sẵn sàng đánh
giặc.
Theo dõi: Những lí lẽ
Trần Quốc Tuấn dùng để thuyết phục các tì tướng nghe theo lời khuyên của chủ
tướng.
Trả lời:
- Trần Quốc Tuấn "đặt mồi lửa vào dưới đống củi" hay "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" để khuyên răn tướng sĩ phải biết lo xa, từ đó dốc sức rèn luyện quân đội hùng mạnh,.... Ông vạch rõ ranh giới giữa hai con đường chính và tà, khẳng định con đường đúng đắn nhất:
+ Chỉ có luyện binh đánh giặc mới có thể chiến thắng, gia đình no ấm và lưu danh thơm đến muôn đời: "Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù".
Trả lời câu hỏi
Câu hỏi 1 SGK
Ngữ văn 8 (trang 63): Bài
hịch được Trần Quốc Tuấn viết ra nhằm mục đích gì?
Trả lời:
- Trần Quốc Tuấn viết bài hịch nhằm mục đích khơi dậy ý chí chiến đấu, thổi bùng lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần trung nghĩa với chủ tướng của các tướng sĩ cùng quyết tâm đánh đuổi giặc Nguyên - Mông xâm lược khi kẻ thù đã ngấp nghé ngay bờ cõi đất nước.
Câu hỏi 2 SGK Ngữ văn 8 (trang 63): Xác
định bố cục của bài hịch và nêu rõ vai trò của từng phần trong việc thực hiện
mục đích của bài hịch.
Trả lời:
+ Phần 1.
Từ đầu đến “còn lưu tiếng tốt”: Nêu gương các bậc trung thần nghĩa sĩ.
+ Phần 2.
Tiếp theo đến “ta cũng vui lòng”: Vạch trần tội ác của giặc và lòng căm thù của
vị chủ tướng.
+ Phần 3.
Tiếp theo đến “vui vẻ phỏng có được không?”: Sai trái của tướng sĩ dưới quyền.
+ Phần 4.
Còn lại: Lời kêu gọi tướng sĩ ra sức học tập “Binh thư yếu lược”.
Câu hỏi 3 SGK Ngữ văn 8 (trang 63): Hãy
chỉ ra những điểm chung của các cặp nhân vật lịch sử được nêu ở phần đầu bài
hịch. Tác giả đã nêu hành động của tám cặp nhân vật lịch sử này để minh chứng
điều gì?
Trả lời:
- Điểm chung: Tất cả các cặp nhân vật lịch sử được nêu ở phần đầu bài hịch đều là những tấm gương có lòng trung nghĩa, tinh thần yêu nước bất diệt, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì nghĩa lớn, quyết không đầu hàng trước kẻ thù và khát khao giành chiến thắng cho đất nước.
- Tác giả đã nêu hành động của tám cặp nhân vật lịch sử này để minh chứng cho một chân lý ngàn đời: những tấm gương trung nghĩa, vì dân sẽ được lưu danh thiên cổ. Qua đó, ông gián tiếp khơi dậy ý thức trách nhiệm của bổn phận đấng nam nhi trước vận mệnh quốc gia.
Câu hỏi 4 SGK Ngữ văn 8 (trang 63): Để
khơi gợi những cảm xúc mạnh mẽ trong lòng các tì tướng và thuyết phục họ, Trần
Quốc Tuấn đã nhắc đến nhiều hiện tượng trong thực tế. Đó là những hiện tượng nào?
Trả lời:
- Để khơi gợi những cảm xúc mạnh mẽ trong lòng các tì tướng và thuyết phục họ, Trần Quốc Tuấn đã nhắc đến nhiều hiện tượng trong thực tế:
+ Ông lột tả chân thực sự hống hách, và ngang ngược của giặc khi đi ngoài đường, chúng ngang nhiên sỉ nhục triều đình, bắt nạt các vị tể phụ, đòi ngọc lụa, thu bạc vàng…Việc sử dụng các hình ảnh ẩn dụ đầy tính mỉa mai, khinh bỉ như "lưỡi cú diều", "thân dê chó" kết hợp với giọng văn châm biếm sâu cay nhằm khơi dậy nỗi căm phẫn tột độ cho người đọc. Đồng thời, lỗi lòng của ông cũng được bộc lộ qua phần điệp với những câu văn biền ngắn gọn đối xứng cân chỉnh đầy xúc động: “Ta thường tới bữa quên ăn…ta cũng cam lòng”. Việc sử các động từ mạnh như (quên ăn, vỗ gối, xẻ thịt, lột da, nuốt gan, uống máu...) cùng nhịp điệu dứt khoát đã khắc họa sâu sắc nỗi uất hận dâng tràn và khát vọng báo quốc của người chủ tướng, từ đó dễ dàng khơi gợi sự đồng cảm ở người đọc, người nghe.
Câu hỏi 5 SGK Ngữ văn 8 (trang 63): Tác
giả đã dùng những bằng chứng và lí lẽ nào để chứng minh các tì tướng đã suy
nghĩ, hành động không đúng?
Trả lời:
- Bằng
chứng:
+ Nếu có
giặc Mông Cổ tràn sang, thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp … tiếng
hát không thể làm cho giặc điếc tai.
+ Lấy việc
chọi gà làm niềm vui… hoặc mê tiếng hát.
+ Chẳng những thái ấp của ta không còn … lúc bấy giờ dẫu các người muốn vui vẻ phỏng có được không?
- Lí lẽ:
+ Nhắc lại
ân tình của Trần Quốc Tuấn và binh sĩ.
+ Phê phán
hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan trước vận mệnh đất nước.
+ Khẳng
định thái độ đúng đắn là phải cảnh giác, tích cực rèn luyện để sẵn sàng đánh
giặc.
Câu hỏi 6 SGK Ngữ văn 8 (trang 63): Tác
giả chọn cách diễn đạt như thế nào để lời hịch có sức tác động lớn đến nhận
thức và tình cảm của các tì tướng? Hãy phân tích một ví dụ mà em cho là tiêu
biểu cho cách diễn đạt đó.
Trả lời:
- Sức thuyết phục to lớn của bài hịch nằm ở cách hành văn linh hoạt, lúc thì thiết tha, lâm ly khi cảnh báo về thảm cảnh nước mất nhà tan, lúc lại sắc lạnh, mỉa mai châm biếm nhằm đánh thẳng vào lòng tự trọng và liêm sỉ của những dũng sĩ mang trong mình "Hào khí Đông A". Đoạn văn tự sự bộc lộ nỗi lòng của Trần Quốc Tuấn là minh chứng rõ nét nhất cho nghệ thuật diễn đạt tài tình này:
+ Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng".
- Bằng việc sử dụng liên tiếp các động từ mạnh đầy sức gợi như quên ăn, vỗ gối, xẻ thịt, lột da, nuốt gan, uống máu... kết hợp cùng lối viết đối xứng của văn biền ngẫu, tác giả đã đẩy cảm xúc căm thù giặc lên đến đỉnh điểm. Người viết không chỉ bộc lộ nỗi đau đớn thể xác, tinh thần của riêng mình mà còn khéo léo truyền ngọn lửa phẫn uất ấy vào tim các tì tướng. Sự chân thành, xót xa của một người cha, một người chủ soái đối xử với thuộc hạ như ruột thịt ("không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm...") càng làm tăng thêm sức nặng cho lời răn đe, khiến cho những kẻ đang mải mê hưởng lạc phải giật mình tự soi xét, nhận thức rõ mối nguy hiểm cận kề để từ bỏ thói ăn chơi, đồng lòng đứng dậy sát cánh cùng chủ tướng.
Câu hỏi 7 SGK Ngữ văn 8 (trang 63): Với
tư cách là chủ tướng, Trần Quốc Tuấn đã dùng những lí lẽ nào để kêu gọi các tì
tướng phải rèn tập võ nghệ, học tập cuốn Binh thư yếu lược, chuẩn bị cho việc
đánh giặc cứu nước?
Trả lời:
- Với tư cách là chủ tướng, Trần Quốc Tuấn đã đặt mình vào vị trí của người đứng đầu quân đội, ông dùng những lí lẽ để kêu gọi các tì tướng phải rèn luyện võ nghệ, học tập Binh thư yếu lược. Ông vạch rõ ranh giới giữa hai con đường chính và tà. Khẳng định con đường đúng đắn duy nhất:
"Chỉ có luyện binh đánh giặc mới có thể chiến thắng, cửa nhà no ấm, tiếng thơm muôn đời. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù ".
Câu hỏi 8 SGK Ngữ văn 8 (trang 63): Từ
bài hịch, em rút ra được bài học gì cho bản thân khi viết một bài văn nghị
luận?
Trả lời:
- Một bài văn nghị luận không phải chỉ hay bằng lý lẽ, lập luận. Điều cốt lõi là người viết phải biết lồng ghép cảm xúc chân thành vào từng câu chữ để lay động trái tim người đọc. Trong nghệ thuật nghị luận trung đại, ranh giới giữa văn chương hình tượng, giàu cảm xúc và văn nghị luận chính trị luôn có sự giao thoa, hòa quyện. Sức thuyết phục mạnh mẽ nhất chỉ đạt được khi người viết biết kết hợp hài hòa giữa lý trí và tình cảm trân thành.
Viết kết nối với đọc
Viết đoạn
văn (khoảng 7 – 9 câu) nói về một truyền thống đáng tự hào của dân tộc Việt Nam
Đoạn văn tham khảo
Trong suốt chiều dài lịch sử, lòng yêu nước nồng nàn cùng tinh thần đoàn kết luôn là điểm tựa vững chắc nhất để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi giông bão. Từ thuở cha ông ta đồng lòng đứng lên đánh bại các thế lực thù địch để giữ vững nền độc lập dân tộc, cho đến thời đại ngày nay, sức mạnh ấy vẫn nguyên vẹn giá trị và được phát huy mạnh mẽ. Minh chứng rõ nét nhất chính là khi những cuộc chiến chống thiên tai, lũ lụt diễn ra hàng năm, tinh thần tương thân tương ái ấy lại được khơi dậy mạnh mẽ trong lòng mỗi người. Dù cuộc sống bị đảo lộn hoàn toàn trước những chỉ thị di dời khẩn cấp và phương án ứng phó thiên tai của chính quyền, nhân dân ta vẫn tuyệt đối tin tưởng tuyệt đối vào Đảng và Nhà nước, đồng lòng thực hiện nghiêm túc vì hiểu rằng đó là cách tốt nhất để bảo vệ tính mạng cho mình. Chính điều này đã giúp cho người dân các địa phương giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và của, nhanh chóng khắc phục hậu quả và sớm ổn định lại cuộc sống. Có thể khẳng định rằng, dù ở bất kỳ thời kỳ nào, ngọn lửa yêu nước và sự đoàn kết vẫn luôn là chìa khóa vạn năng giúp Việt Nam chiến thắng mọi thử thách, vững bước đi lên.
---------------------------------------
Trên đây là phần hướng dẫn Soạn bài Hịch tướng sĩ Ngữ văn 8 giúp bạn hiểu rõ hơn về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài học. Hy vọng rằng những kiến thức này sẽ là nguồn tài liệu hữu ích đồng hành cùng bạn trong quá trình ôn tập và nâng cao kết quả học tập môn Ngữ văn. Nếu bạn cần tham khảo thêm các bài soạn chi tiết hoặc phân tích chuyên sâu cho các văn bản khác trong chương trình, hãy khám phá ngay kho tài liệu dưới đây nhé."