Đọc văn bản
MỘT THỂ THƠ ĐỌC ĐÁO CỦA NGƯỜI VIỆT (DƯƠNG LÂM AN)
Thể thơ
song thất lục bát là một sáng tạo văn học độc đáo của người Việt.
Những tác
phẩm đầu tiên sáng tác bằng thể thơ song thất lục bát là Chỉ Nam
ngọc âm giải nghĩa (chưa rõ tác giả, có thể được sáng tác trong thế
kỉ XV) và Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn (Bài văn làm hộ
tám giáp thưởng cho cô đào được giải, do Lê Đức Mao sáng tác trước
khi đỗ Tiến sĩ năm 1505).
Một điều
thú vị là tác phẩm Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn cũng là
một trong những trước tác văn học viết đầu tiên có những đoạn viết
bằng thể thơ lục bát.
Hiện chưa
đủ căn cứ để xác định chính xác thời điểm ra đời của tác phẩm đầu
tiên viết bằng thể thơ lục bát và song thất lục bát. Dẫu vậy, có
thể khẳng định rằng hai thể thơ này đều được người Việt sáng tạo
trong thời gian khoảng thế kỉ XV – XVI, xuất hiện trước sau không lâu.
Thể thơ
song thất lục bát và thể thơ lục bát tương đồng ở quy luật dùng
thanh điệu và cách gieo vần ở cặp câu lục bát. Không xét đến các
trường hợp lục bát biến thể, về cơ bản, thanh điệu được cố định ở câu lục
(các vị trí tiếng thứ 2, 4 và 6) là bằng trắc – bằng, còn thanh điệu ở câu bát
(các vị trí tiếng thứ 2, 4, 6 và 8) là bằng — trắc bằng – bằng;
vần chân
được gieo ở cả hai câu, còn vần lưng được gieo ở tiếng thứ 6 (có khi ở tiếng
thứ 4) của câu bát. Sự khác biệt giữa hai thể thơ này căn bản nằm ở cặp câu
song thất.
Về thanh
điệu, cặp câu song thất chú trọng quy chuẩn thanh điệu của các tiếng ở vị trí
lẻ trong câu thơ (tiếng thứ 5 và 7 ở câu thất thứ nhất lần lượt là bằng – trắc;
tiếng thứ 3, 5 và 7 ở câu thất thứ hai lần lượt là bằng – trắc – bằng). Về vần,
mỗi câu thất đều có cả vần chân và vần lưng.
Do vậy mà
cứ 28 chữ (tiếng), tương đương với một nhóm bốn câu thơ, thì thể song thất lục
bát có bảy tiếng gieo vần, trong khi thơ lục bát chỉ có sáu. Chẳng hạn, tác
phẩm Chinh phụ ngâm (bản diễn Nôm) mở đầu bằng những câu thơ sau:
Thủa trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Nào ai gây dựng cho nên nỗi này?
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Chín lần gươm báu trao tay,
Nữa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh...
Những câu
thơ dài và ngắn đan xen, cùng mật độ vần lớn (trung bình mỗi bốn
tiếng có một vần) không một thể thơ nào ra đời trước đó có thể
sánh bằng, khiến những câu thơ song thất lục bát luôn phối hợp hài
hòa với nhau, tạo nên âm hưởng du dương, giàu nhạc tính.
Giàu nhạc
tỉnh là một điểm mạnh được thơ song thất lục bát phát huy ở một thể loại trữ
tình trong văn học Việt Nam: ngâm khúc. Những khúc ngâm như bản diễn Nôm Chinh
phụ ngâm được cho là của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), Cung oán ngâm khúc của
Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798), Ai tư vấn của Lê Ngọc Hân (1770 – 1799).
Tự tình
khúc của Cao Bá Nhạ (sống khoảng thế kỉ XIX), bản diễn Nôm Tì bà hành của Phan
Huy Thực (1778 – 1844), bản diễn Nôm Chức cẩm hồi văn của Ngô Thế Vinh (1802 –
1856), Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận (1815 – 1866)...
Đã khẳng
định một giai đoạn cực thịnh của ngâm khúc cũng như thể song thất lục bát trong
khoảng thế kỉ XVIII – XIX. Mặc dù ngâm khúc trong văn học Việt Nam được sáng
tác bằng nhiều thể thơ khác nhau, nhưng thể thơ song thất lục bát vẫn tạo cho
ngâm khúc một dấu ấn riêng, biểu hiện những tâm trạng, cảm xúc trữ
tình bi thương, kết tinh những giá trị nhân văn và hiện thực sâu sắc.
Chẳng
hạn, những câu thơ cuối tác phẩm Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân khiến
người đọc xúc cảm, suy ngẫm về số phận của một con người cũng như
những biến thiên của thời cuộc:
Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy,
Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu!
Phút giây bãi bể nương dâu,
Cuộc đời là thế, biết hầu nài sao?
Chữ tình nghĩa trời cao, đất rộng,
Nỗi đoạn trường còn sống, còn đau.
Mấy lời tâm sự trước sau,
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.
Ngoài ngâm
khúc, song thất lục bát còn được dùng trong nhiều thể loại văn học khác (ca
trù, văn tế, thơ,...), với những tác phẩm nổi tiếng như Đại nghĩ bát giáp
thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao, Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải (sống
khoảng thế kỉ XVI), Văn tế thập loại chủng sinh của Nguyễn Du (1765 – 1820).
Khóc Dương
Khuê của Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), bản dịch Hải ngoại huyết thư ) của Lê Đại
(1875 – 1952)... Dù ở thể loại nào, thơ song thất lục bát vẫn luôn thể hiện
được khả năng truyền cảm mạnh mẽ mà sâu lắng. Để bày tỏ nỗi xót xa khi hay tin
người bạn thân thiết không còn nữa, Nguyễn Khuyến đã viết những câu thơ song
thất lục bát thật thấm thía trong bài thơ Khóc Dương Khuê
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.
Đầu thế kỉ
XX, các nhà thơ danh tiếng như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Á Nam Trần Tuấn
Khải,... có nhiều sáng tác theo thể song thất lục bát. Một số nhà thơ hiện đại
như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Binh, Bích Khê, Hồ Dzếnh, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu,... vẫn
tiếp tục sử dụng song thất lục bát khi sáng tác, bởi vẻ đẹp, sức truyền cảm đặc
biệt của thể thơ này.
Tất nhiên,
thay cho tâm trạng buồn thương thường trực trong quá khứ, những tác phẩm hiện
đại viết theo thể song thất lục bát đã mang hơi thở của thời đại mới, truyền
tải những tâm trạng, xúc cảm mới mẻ. Như với tác phẩm Ba mươi năm đời ta có
Đảng, Tố Hữu đã mang một sức sống tươi trẻ của nước Việt Nam mới gửi gắm vào
trong những câu thơ song thất lục bát:
Màu áo mới nâu non nắng chói
Mái trường tươi roi rói ngói son
Đã nghe nước chảy lên non
Đã nghe đất chuyển thành con sông dài…
Ngày này,
thể thơ cổ điển này không còn thịnh hành, nhưng với mỗi người Việt
Nam, những câu thơ song thất lục bát vẫn luôn đem lại ấn tượng về
những tình cảm thân thương. Đó thực sự là một thể thơ đặc sắc mà
người Việt đã sáng tạo nên để có thể gửi gắm vào trong đó tâm hồn
sâu lắng của mình.
Sau khi đọc
Câu hỏi 1
SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (trang 53): Theo thông
tin trong văn bản, thơ song thất lục bát ra đời khi nào?
Trả lời:
- Thể thơ song thất lục bát ra đời trong khoảng thế kỉ XV - XVI. Hai tác phẩm được xem là những dấu mốc đầu tiên là Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa (được sáng tác trong khoảng thế kỷ XV) và Đại ngạch bát giáp thưởng đào giải văn (được viết vào năm 1505).
Câu hỏi 2
SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (trang 53): Đặc điểm
hình thức nào giúp thơ song thất lục bát giàu nhạc tính?
Trả lời:
- Đặc điểm hình thức: Những câu thơ dài ngắn đan xen, cùng mật độ vần lớn khiến cho các câu thơ luôn phối hợp hài hòa với nhau tạo nên âm hưởng du dương, giàu nhạc tính.
Câu hỏi 3
SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (trang 53): Văn bản đề
cập những điểm tương đồng và khác biệt nào giữa thơ song thất lục bát và thơ
lục bát?
Trả lời:
- Điểm tương đồng: Quy luật dùng thanh điệu và cách gieo vần ở cặp câu lục bát.
- Điểm khác
biệt: Chủ yếu nằm ở cặp câu song thất.
Câu hỏi 4
SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (trang 53): Theo văn
bản, vì sao thể thơ song thất lục bát vẫn được sử dụng để sáng tác trong thời
kì hiện đại?
Trả lời:
- Khả năng bộc lộ cảm xúc sâu lắng và thể hiện được sự truyền cảm mạnh mẽ là lí do giúp thể thơ song thất lục bát tiếp tục được các tác giả hiện đại lựa chọn để sáng tác.
Câu hỏi 5
SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (trang 53): Trình bày
suy nghĩ của em về nhận định của tác giả đối với thể thơ song thất lục bát: “Đó
thực sự là một thể thơ đặc sắc mà người Việt đã sáng tạo nên để có thể gửi gắm
vào trong đó tâm hồn sâu lắng của mình”.
Trả lời:
- Nhận định trên của tác giả về thể thơ song thất lục bát vô cùng thỏa đáng và chính xác. Tinh thần tiếp thu rồi cải biến văn hóa bên ngoài để sáng tạo ra những cái mới thuộc về bản thân đã được ông cha ta thể hiện rõ qua việc sáng tạo ra thể thơ này. Nhờ quy tắc ngắt nhịp, gieo vần cùng cách phối thanh điệu hài hòa, nhẹ nhàng, giàu tính nhạc, song thất lục bát mau chóng trở thành một trong những thể thơ đặc sắc nhất và xuất hiện phổ biến trong thơ văn Việt Nam. Cũng chính bởi do được người Việt tạo ra mà thể thơ này mang đậm bản sắc cùng tâm hồn của dân tộc. Tâm hồn sâu lắng, nỗi niềm dành cho quê hương, con người hay đất nước thường là những nội dung được truyền tải trong thơ song thất lục bát. Điều mà ít thể thơ nào làm được.